PHƯƠNG PHÁP PEEL ĐANG Ở ĐÂU TRÊN BẢN ĐỒ THẨM MỸ DA? Phần 2

Đối với tình trạng lão hoá do ánh sáng mãn tính và tăng sắc tố, Glogau đưa ra Thang đo lão hoá do ánh sáng, có thể hữu ích trong việc phân loại bệnh nhân.

Peel da được chia thành ba loại, tuỳ thuộc vào độ sâu của vết thương do hoá chất tạo ra. Peel rất nông và peel nông chỉ xâm nhập vào lớp biểu bì, peel trung bình ảnh hưởng đến toàn bộ lớp biểu bì và lớp hạ bì nhú, và peel sâu cho phép kiểm soát tổn thương mô đến lớp hạ bì lưới (và đôi khi là cả vùng hạ bì nếu không được sử dụng đúng cách).

Độ sâu của peel được quyết định bởi một số yếu tố, bao gồm loại hoạt chất, nồng độ, số lần và liệu trình sử dụng, loại da và tình trạng da đang được điều trị. Ví dụ nồng độ cao hơn sẽ đạt được đích tác động trên da trong thời gian ngắn hơn. 

Ngoài ra còn ảnh hưởng bởi thời gian hồi phục, tốc độ lành vết thương và khả năng xảy ra các tác dụng phụ cũng tỷ lệ thuận với độ sâu khi peel; với peel sâu thì thời gian phục hồi sẽ lâu hơn, có nguy cơ để lại sẹo và rối loan sắc tố cao hơn, tuy nhiên chúng sẽ mang lại những cải thiện đáng kể về kết cấu cũng như màu da.

Khi được sử dụng peel da đúng chỉ định, đúng cách, đúng kỹ thuật thì gần như tất cả các phương pháp peel da đều đem lại sự thành công xuất sắc trong việc cải thiện tông màu và kết cấu của da, và vẫn sẽ là công cụ không thể thiếu trong chỉ định của bác sĩ da liễu.

Bảng 2. Phân loại hoạt chất thay da theo độ sâu và mức độ tổn thương da.

Mức độ peel daHoạt chấtMức độ xâm nhập daTác dụng phụ
NôngAHA như glycolic (30-50%), lactic (10-30%) hoặc mandelic (40%)BHAs như salicylic acid (30%)AKAs như pyruvic acid (50%)Có thể cắt đứt lớp nối giữa biều bì và bìThay đổi sắc tố sau viêm, ban đỏ, ngứa rát, bong tróc bề mặt/tiêu biểu bì
Trung bìnhSalicylic acid (>30%, nhiều lớp)Glycolic acid (70%, có hoặc không có lớp lót như dung dịch Jessner)TCA (30-50%, đơn lớp, có hoặc không có lớp lót Jessner)Toàn bộ lớp biểu bì đến lớp bì nhúCó thể thay đổi sắc tố sau viêm, nhiễm khuẩn nhiễm nấm bề mặt, tái nhiễm Herpes virus, sẹo, mụn thịt, phát ba dạng mụn trứng cá, bong/tiêu biểu bì dày.
SâuTCA (>50%, đơn lớp, với lớp lót bằng Jessner)Baker-Gordon phenol peel (chất tẩy rửa, dầu croton làm chất phân huỷ biểu bì, phenol và nước để pha loãng thành 50-55% phenol)Đi sâu đến lớp bì lướiThay đổi sắc tố sau viêm, nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn hoặc nấm, tái nhiễm Herpes virus, sẹo, mụn thịt, phát ban dạng mụn trứng cá, nhiễm độc tim/rối loạn nhịp tim (do hấp thu phenol toàn thân, gặp ở 34-50% bệnh nhân), nhiễm độc gan, nhiễm độc thận.

Chú thích: AHA: alpha hydroxy acid; BHA: beta hydroxy acid; AKA: alpha keto acid; TCA: trichloroacetic acid; Dung dịch Jessner: acid salicylic 14g- resorcinol 14g- acid lactic 85% 14g và Etanol 100ml được sử dụng làm lớp lót giúp tối ưu hoá quá trình thay da ở mức độ trung bình bằng cách phá vỡ lớp sừng hoá.

Hình 2. Mô tả trực quan độ sâu mong muốn của hoá trị liệu trong peel da theo các tác nhân được sử dụng.

Hình 3. Các vùng thẩm mỹ cơ bản được chia theo các đường màu xanh dương (gồm vùng trán, vùng quanh mắt, mũi, má, vùng quanh miệng, cằm). Thao tác peel da sẽ bắt đầu từ trán và tiến dần xuống dưới. Các vùng nguy hiểm được đánh dấu đỏ gồm khoé mắt và rãnh mũi. Cần lưu ý bảo vệ những khu vực này vì hoạt chất peel được sử dụng có xu hướng đọng lại những vùng này và có thể gây ra tình trạng đông sừng quá mức.

(còn tiếp)

DS. THANH LÂM

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *