LỊCH SỬ
SA (Salicylic acid) đã được điều trị tại chỗ cho các vấn đề về da từ thế kỳ thứ nhất sau Công nguyên, Pliny đã sử dụng vỏ cây liễu để điều trị vết chai, sần. Buchner, Brugnatelle và Fontana đã phân lập salicin từ vỏ cây liễu từ cuối những năm 1820, sau đó được Leroux tinh chế. Vào năm 1860, phát hiện ra khả năng làm mềm và tẩy tế bào chết của SA. Paul Gerson Unna, bác sĩ da liễu người Đức được ghi nhận là người đã mô tả các đặc tính và công dụng của SA.
Là một chất làm tiêu nhân mụn, SA được sử dụng trong nhiều loại thuốc bôi trị mụn. Nó cũng được biết là giúp các hoạt chất khác tăng khả năng thâm nhập.
TÍNH CHẤT HOÁ HỌC
SA được chiết xuất từ vỏ cây liễu, bạch dương, và lá cây thạch nam. Tuy nhiên, SA cũng được điều chế bằng cách tổng hợp từ các nguyên liệu hoá học.

Hình 1. Công thức hoá học của Salicylic acid
Theo một vài nhận định, vẫn có tranh cãi trong việc phân loại SA thuộc nhóm axit b-hydroxy và axit a-hydroxy. Vì SA có nhóm carboxyl (-COOH) và hydroxyl (-OH) gắn trực tiếp vào vòng benzen thơm, không giống như axit b-hydroxy thực sự là chứa chuỗi nguyên tử carbon béo. Thứ hai, nhóm hydroxyl của SA có tính axit trong khi nhóm hydroxyl của axit b-hydroxy có tính trung tính. Có thể SA được xếp vào nhóm axit b-hydroxy vào thời điểm peel bằng axit b-hydroxy được giới thiệu trên thị trường nhằm khai thác lợi nhuận và phổ biến cho loại axit b-hydroxy này.
SA là một chất hoá học hoà tan trong lipid, ngược với các axit a-hydroxy, do đó chúng có thể len lỏi vào lipid biểu bì cùng lipid trên tuyến bã nhờn trong nang lông. Vì thế chúng loại bỏ lipid nội bào, được liên kết cộng hoá trị với lớp vỏ sừng hoá bao quanh các tế bào biểu mô bề mặt. SA làm giảm độ bám dính của tế bào sừng và làm cho các tế bào này lỏng lẻo sau đó bong ra. Tác dụng chống tăng sản của SA trên lớp biểu bì đã được các bác sĩ da liễu sử dụng trong phương pháp peel da.
Ngoài ra Salicylates và các dẫn xuất của chúng đã được sử dụng trong các công thức chống nắng. Vì vòng benzen thơm trong salicylate chuyển đổi bức xạ cực tím thành bữa xạ sóng dài hơn được cảm nhận dưới dạng nhiệt, đó là cơ chế hoạt động của các sản phẩm chống nắng. SA cũng có đặc tính kháng khuẩn và kháng nấm. SA cũng có tác dụng gây mê, được thấy rõ trong quá trình peel da và làm tăng khả năng chịu đựng của bệnh nhân trong quá trình thực hiện thủ thuật.
LIỀU LƯỢNG
Nồng độ SA khác nhau được sử dụng trong da liễu và mỹ phẩm
- 0.5 – 10% Mụn
- 3 – 6% Rối loạn tăng sừng như bệnh vảy nến, bệnh da vảy cá, chứng dày sừng pilaris
- 5 – 40% Mụn cóc
- 50% Tổn thương do ánh sáng mặt trời và tăng sắc tố
- 20 – 30% Lột da bằng hoá chất (Peel da)
CHỈ ĐỊNH
- Mụn trứng cá
- Nám da
- Tăng sắc tố sau viêm
- Tàn nhang
- Đồi mồi
- Tổn thương do ánh sáng mặt trời (nhẹ đến trung bình)
- Da thô ráp, sần sùi
- Nếp nhăn nông, mức độ phân loại Glogau I

Hình 2. Bệnh nhân trước và sau khi điều trị phương pháp peel bằng Salicylic Acid.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
- Dị ứng với thành phần của salicylates
- Da có vết thương hở
- Da đang tổn thương cấp tính
- Da nhiễm trùng
- Phụ nữ mang thai
- Da đang có tình trạng bong tróc
- Đang trong thời gian sử dụng Isotretinoin, hoặc đã sử dụng Isotretinoin trong vòng 6 tháng gần đây.
- Bệnh ác tính trên da
- Da cháy nắng
TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN
Đây là điều kiện cần – quan trọng trước khi thực hiện peel da để tránh nguy cơ lột da không hoàn hảo, có thể làm tổn thương khuôn mặt của bệnh nhân.
Mặt khác, bác sĩ điều trị phải là bác sĩ da liễu được đào tạo bài bản, và có kiến thức chuyên môn về giải phẫu, hiểu về hoạt chất (acid, base, độ pH, pKa).
Khái niệm về phục hồi vết thương do hoá chất cũng cần phải nắm rõ đối với bác sĩ, ngoài ra còn về bệnh sinh như nám, mụn trứng cá.
Cuối cùng, bác sĩ phải nắm vững tất cả các khía cạnh của các biến chứng tiềm ẩn sau phẫu thuật, bao gồm ngăn ngừa, nhận biết, và quản lý.
CHĂM SÓC DA SAU THỦ THUẬT
Trong 48 tiếng đầu sau thủ thuật, tiếp tục sử dụng các loại kem dưỡng ẩm và rửa mặt nhẹ nhàng cho đến khi hết kích ứng. Sau đó bệnh nhân có thể tiếp tục các chu trình chăm sóc da. Đối với các phản ứng diễn ra khi peel da, bệnh nhân nên tư vấn bác sĩ để hiểu rõ hơn.
PHẢN ỨNG PHỤ
Ghi nhận các phản ứng phụ khi peel da bằng SA như sau:
- Ban đỏ
- Khô da
- Đóng vảy và bong tróc
- Tình trạng khô và tăng sắc tố thoáng qua được thấy ở số ít bệnh nhân nhưng sẽ hết sau 7-14 ngày.
- Nhạy cảm khi tiếp xúc ánh nắng
Tóm lại, SA là hoạt chất tẩy tế bào chết an toàn và hiệu quả cho một số vấn đề về da liễu và thẩm mỹ, gồm mụn trứng cá, nám, tổn thương da do ánh nắng, tàn nhang, đồi mồi.
Tài liệu tham khảo
- Grajqevci-Kotori M, Kocinaj A. Exfoliative Skin-peeling, Benefits from This Procedure and Our Experience. Med Arch. 2015 Dec;69(6):414-6. doi: 10.5455/medarh.2015.69.414-416. PMID: 26843737; PMCID: PMC4720453.
- Ravikumar B, R I, Pillai D. Efficacy of Alpha and Beta Hydroxy Acid Chemical Peels in Postacne Pigmentation: A Double Blinded, Randomized, Controlled Trial. J Clin Aesthet Dermatol. 2022 Jan;15(1):48-52. PMID: 35309278; PMCID: PMC8903232.
- Lekakh O, Mahoney AM, Novice K, Kamalpour J, Sadeghian A, Mondo D, Kalnicky C, Guo R, Peterson A, Tung R. Treatment of Acne Vulgaris With Salicylic Acid Chemical Peel and Pulsed Dye Laser: A Split Face, Rater-Blinded, Randomized Controlled Trial. J Lasers Med Sci. 2015 Fall;6(4):167-70. doi: 10.15171/jlms.2015.13. Epub 2015 Oct 27. PMID: 26705462; PMCID: PMC4688384.
DS. THANH LÂM

