PHỐI HỢP CỦA TCA VÀ ÁP DỤNG CÁC VÙNG NGOÀI MẶT

TCA trong dung môi nước cất được sử dụng ở nồng độ: • 10-15% khi peel rất nông các vùng da body • 20-25% để peel nông • 30% để peel trung bình • 45-50% có thể xâm nhập

Dung dịch Jessner – TCA 35% (Công thức phối hợp Monheit)

Với hoạt tính ly giải tế bào sừng của dung dịch Jessner (14g Resorcinol, 14g Salicylic acid, 14g Lactic acid 85%, thêm ethanol vào để tạo ra tổng thể tích là 100ml) sẽ giúp cho hàng rào thượng bì thay đổi để khi bôi TCA sẽ giúp hấp thu nhanh hơn và đạt kết quả đồng nhất.

Bôi khoảng một đến hai lớp dung dịch Jessner, lúc này da đã bắt đầu hồng ban và xuất hiện đốm frost trắng nhẹ. Sau khi bôi Jessner nên đợi khoảng 2 phút để bôi TCA. 

Sau khi bôi TCA, sẽ có frosting trắng, và độ frosting mong muốn trong peel trung bình là độ II, độ III. Những vùng có khả năng để lại sẹo như vùng cung gò má, vùng xương ở hàm và cằm, thì đối với những vùng này không nên để frost quá độ II. 

Glycolic acid 70% – TCA 35%

Sau khi rửa sạch da mặt, áp glycolic acid 70% nhanh và đều lên bề mặt da. Sau 2 phút, dùng nước để trung hoà dung dịch peel.

Với mức độ peel da nông và trung bình, bộ đôi phối hợp này sẽ nâng cao hiệu quả việc giảm nếp nhăn, tăng sắc tố, khô da, đỏ da gây ra bởi ánh nắng mặt trời.

Với tác dụng làm mỏng lớp thượng bì, kích thích ly giải lớp bì, phân tán melanin ở lớp đáy và tăng biểu hiện gen sản xuất collagen.

Cùng với hoạt chất TCA-tiêu chuẩn vàng trong peel da thì bộ đôi này hỗ trợ điều trị các vấn đề về lão hoá do ánh sáng rất tốt.

Một lưu ý nhỏ nhưng cần thiết khi sử dụng phối hợp này, là thời gian lên frost trên da. Các bác sĩ cần chú ý mức độ phản ứng trên da để đạt được hiệu quả cho khách hàng.

ÁP DỤNG CÁC VÙNG NGOÀI MẶT

TCA trong dung môi nước cất được sử dụng ở nồng độ:

  • 10-15% khi peel rất nông các vùng da body
  • 20-25% để peel nông 
  • 30% để peel trung bình
  • 45-50% có thể xâm nhập 

Nếu điều trị theo phương pháp peel da này nên theo liệu tình từ 2-3 lần, khoảng cách giữa các lần khoảng 45-60 ngày (Hình 5).

Đối với peel nồng độ thấp nhiều đợt liên tiếp giúp đạt được kết quả điều trị tốt, ổn định và có thể dự doán được trong khi vẫn đảm bảo tính an toàn với nguy cơ bị rối loạn sắc tố và hình thành sẹo thấp hơn.

Vùng da body gặp tổn thương ánh sáng nhẹ, rối loạn sắc tố. Và thời gian lành vết thương khi peel body dài hơn so với peel da ở vùng mặt.

Vì TCA là loại acid làm biến tính protein, gây hoại tử và giết chết tế bào. Mức độ hoại tử phụ thuộc vào nồng độ và số lớp acid được bôi. Chúng ta gần như không thể trung hoà được acid này vì protein bị biến tính được quan sát thấy chỉ trong vài giây. Trên lâm sàng sự biến tính của protein được biểu hiện bởi sự xuất hiện của các vùng frosting. Tuỳ vào độ sâu của peel, mà những vùng trắng-xám với các mức độ khác nhau xuất hiện trên nền da đỏ. Đối với da tối màu thì không mong muốn có sự xuất hiện của lớp frost. Do đó khuyến cáo dùng TCA dưới 25%.

Tóm lại, kiến thức da liễu cơ bản là cần thiết đối với tất cả các loại peel, kể cả peel nông. Bác sĩ thực hiện phải lưu ý đến phân loại da của bệnh nhân, màu sắc, độ dày, độ săn chắc, mức độ da đầu và độ mỏng của da để quyết định phương pháp tối ưu nhất cho khách hàng.

Tại TheraMD chúng tôi sẽ cung cấp kiến thức và công cụ để đạt được mục đích điều trị cho các bác sĩ cũng như những chuyên gia da liễu. Với giá trị mang đến cho khách hàng một làn da trẻ, khoẻ, đẹp!

Tài liệu tham khảo

Issa, M. C. A., & Tamura, B. (Eds.). (2017). Chemical and Physical Procedures. Clinical Approaches and Procedures in Cosmetic Dermatology. Springer Cham.

Obagi, S. (2020). Procedures in Cosmetic Dermatology Series: Chemical Peels (Ed. 3rd)

DS. THANH LÂM

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *